Trả lời:
Điều 15 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: “Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam, mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam”. Trường hợp các bạn đều có quốc tịch Việt Nam thì con các bạn dù sinh ra ở nước ngoài, cháu sẽ vẫn mang quốc tịch Việt Nam.
Điểm a, Khoản 1, Mục 2 Thông tư liên tịch 11/2008/TTLT-BTP-BNG ngày 31.12.2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27.12.2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch tại các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài quy định: “Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước mà trẻ em sinh ra hoặc ở nước mà cha, mẹ của trẻ là công dân Việt Nam cư trú, thực hiện việc đăng ký khai sinh”. Như vậy, bạn có thể đến Cơ quan đại diện Việt Nam tại Nhật Bản (Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản) để tiến hành thực hiện việc đăng ký khai sinh cho cháu.
Trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ được thực hiện tương tự như quy định tại Điều 15 Nghị định 158/2005/NĐ-CP. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp giấv chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ (nếu cha, mẹ của trẻ có đăng ký kết hôn). Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ sinh ra cấp; nếu trẻ sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.
Ngoài ra, Thông tư liên tịch 11/2008/TTLT-BTP-BNG còn quy định việc xác định họ, quê quán, nơi sinh của trẻ em Việt Nam khi sinh ra ở nước ngoài. Theo đó, khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ. Mục ghi nơi sinh của trẻ được ghi theo tên thành phố, tên nước nơi trẻ sinh ra.
Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Thủ trưởng Cơ quan đại diện Việt Nam ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh. |