Theo
thông tin trên báo chí, Công an huyện Ðầm Dơi đã khởi tố thêm vợ chồng
chủ trại tôm Giang-Thơm về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Ðiều
104 BLHS (có mức hình phạt là từ 5 đến 15 năm tù). Nhưng theo tôi, các
cơ quan pháp luật của Cà Mau có thể áp dụng khoản 4 điều luật này để xử
phạt họ thật nặng.
Khoản 4 Ðiều 104 BLHS dành cho trường
hợp phạm tội dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng với mức hình phạt là tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn trường hợp cố ý gây thương tích như
thế nào thì thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Năm 1993, khi còn là phó chánh tòa Tòa
Hình sự TAND Tối cao, tôi được tăng cường vào Tòa Phúc thẩm TAND Tối
cao tại TP.HCM để xét xử phúc thẩm một số vụ án. Khi HÐXX phúc thẩm về
tỉnh Hậu Giang (nay là TP Cần Thơ), tôi được phân công làm chủ tọa
phiên tòa phúc thẩm một vụ án xảy ra trong trại tạm giam của công an
tỉnh.
Tại đây có một số phạm nhân được xem là
“đầu gấu” trong trại. Khi có phạm nhân mới vào, nhóm “đầu gấu” đó bắt
họ hầu hạ, nhường suất cơm cho chúng, chúng ăn còn thừa thì mới được
ăn. Khi chúng ngủ thì phải ngồi hầu quạt, ai không nghe sẽ bị đánh đập.
Bọn chúng còn cắt máu các phạm nhân mới vào pha với nước để uống thay
cho rượu...
Hành vi của nhóm “đầu gấu” này kéo dài
hơn một năm mới bị phát hiện. Do có nhiều nạn nhân đã chuyển trại, đã
chấp hành xong hình phạt tù rồi về quê nên cơ quan điều tra không thể
triệu tập họ để lấy lời khai và giám định tỉ lệ thương tật. Trong 10
nạn nhân còn lại xác định được địa chỉ, người có tỉ lệ thương tật cao
nhất cũng chỉ 9%, người thấp nhất có 1%.
Vụ án này gây bất bình trong dư luận vì
làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến công tác quản lý các trại giam. Thế
nhưng tòa án cấp sơ thẩm cũng chỉ xử theo khoản 2 Ðiều 109 BLHS năm
1985 (đã được sửa đổi, bổ sung). Sau khi xét xử sơ thẩm, VKS tỉnh kháng
nghị đề nghị tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 3 Ðiều 109 BLHS và tăng
hình phạt đối với các bị cáo.
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, tôi cũng
thấy hành vi phạm tội của các bị cáo vô cùng nghiêm trọng nên đã thống
nhất với HÐXX phúc thẩm là chuyển từ khoản 2 lên khoản 3 Ðiều 109 với
tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng” và tăng hình phạt đối với tất cả bị cáo. Theo đó, mức
phạt dành cho các bị cáo cao nhất là 18 năm tù, nhẹ nhất là 10 năm tù.
Sau khi xét xử vụ án này, cũng có nhiều
ý kiến cho rằng chúng tôi áp dụng tình tiết “phạm tội thuộc trường hợp
đặc biệt nghiêm trọng” là không chính xác. Thay mặt HÐXX, tôi có báo
cáo với chánh án TAND Tối cao xem xét việc có kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm hay không. Tuy nhiên, bản án hình sự phúc thẩm trên đã
không bị kháng nghị. Từ đó đến nay, chúng tôi chưa gặp trường hợp tương
tự nào mà tòa án áp dụng tình tiết này.
Từ vụ việc nêu trên, theo tôi, các cơ
quan tiến hành tố tụng ở Cà Mau có thể xem xét để truy cứu trách nhiệm
hình sự vợ chồng Giang-Thơm theo khoản 4 Ðiều 104 BLHS với tình tiết
“phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng”. Tôi tin rằng cách xử
lý này đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và sẽ được
dư luận đồng tình.
ÐINH VĂN QUẾ Chánh Tòa Hình sự TAND Tối cao